Các giai đoạn tâm lý con người theo Erik Erikson
Mình sẽ nói về các giai
đoạn phát triển tâm lý xã hội (psychosocial) theo Erik Erikson. Vì thiết nghĩ đời
người thì cũng sẽ hầu như trải qua các giai đoạn này. Ở phương Đông của chúng
ta thì mình mới chỉ biết đến Khổng Tử với các giai đoạn như “Thập ngũ nhi chí ư
học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục
thập nhi nhĩ toàn, thất thập nhi tâm tòng sở dục bất du củ.”
Còn theo phương Tây thì
có rất nhiều học thuyết về các giai đoạn phát triển của đời người. Nào là
Sigmund Freud, Alfred Adler, Carl Jung,… Nhưng mình thấy Erik Erikson chia ra rất
là cụ thể và chúng ta cũng sẽ mường tượng được những gì trong từng giai đoạn tuổi.
Sẽ có 8 giai đoạn tương ứng
với tám sức mạnh cơ bản mà chúng ta sẽ có được theo dòng thời gian như là hy vọng
(Hope), ý chí (Will), mục đích (Purpose), năng lực (Competence), sự chân thực
(Fidelity), tình yêu (Love), sự chăm sóc (Care), sự khôn ngoan (Wisdom).
Đồng thời nó sẽ có 8 kiểu
rối loạn tâm lý tương ứng với 8 sức mạnh kia như là sự rút lui (Withdraw), sự
cưỡng ép (Compulsion), sự ức chế (Inhibition), sự trì trệ (Inertia), từ chối
vai trò (Role Repudiation), sự độc tôn (Exclusivity), chỉ quan tâm đến mình (Rejectivity),
sự khinh bỉ (Disdain).
Hy vọng (hope) và sự rút
lui (Withdraw).
Giai đoạn này sẽ là tầm từ
0 – 1 tuổi, lúc này thì đứa trẻ vừa mới ra đời, chưa nhận biết nhiều về thế giới
xung quanh. Chúng sẽ chỉ thụ động từ sự nuôi dưỡng, chăm sóc, cho bú mớm của
người lớn. Sẽ có một sự xung đột giữa tin tưởng (trust) nếu được chăm sóc tốt,
đầy đủ và sự không tin tưởng (mistrust) nếu bị chăm sóc kém, ít thương yêu quan
tâm. Hai mâu thuẫn này nó sẽ bổ sung, bù trừ cho nhau để từ đó đứa trẻ có một sức
mạnh cơ bản là hy vọng (hope) dẫn bước chúng đến những giai đoạn tiếp theo. Còn
nếu mà mẫu thuẫn này không được giải quyết tốt thì sẽ dẫn đến sự thu rút, thoái
lui (withdraw), không muốn tiến tới nữa hoặc là sự trốn tránh mọi thứ về sau
này.
Ý chí (will) và sự cưỡng
ép (Compulsion)
Giai đoạn này là từ 1 đến
3 tuổi. Hầu hết các tác giả tâm lý đều cho đây là giai đoạn liên quan đến việc
tập đi vệ sinh, chạy, nhảy, cầm nắm. Nó sẽ sinh ra hai lưỡng cực là tính tự trị
(autonomy) và cảm giác xấu hổ, nghi ngờ (shame, doubt). Nếu đứa trẻ được hướng
dẫn đi vệ sinh một cách tốt nhất, không bị la mắng, la rầy thì chúng sẽ cảm
giác được quyền tự quyết của mình hơn, chủ động hơn. Còn nếu bé mà cứ bị la, bị
mắng khi mà làm sai, đi vệ sinh lung tung thì chúng đâm ra xấu hổ, nghi ngờ bản
thân mình. Sự tự chủ và sự xấu hổ là hai cực mà sinh ra sức mạnh tiếp theo là ý
chí (will) để mỗi trẻ tự quyết tâm vươn lên, tự làm những điều mình mong muốn.
Còn nếu chúng bị la nhiều quá, bị rối loạn thì chúng sinh ra sự cưỡng bức
(compulsion) lúc nào cũng nghi ngờ là mình đã làm việc đó chưa, đã đúng chưa và
nó cứ ép bản thân phải kiểm tra lại.
Mục đích (purpose) và sự ức
chế (inhibition)
Giai đoạn này trẻ từ 3 tuổi
đến 5 tuổi. Đứa trẻ lúc này thích tìm hiểu về những điều mới lạ xung quanh,
thích tự đặt nhiều câu hỏi cho cha, mẹ, anh, chị của chúng. Chúng thích sự sáng
tạo (initiative), mày mò này kia, nghịch ngợm những đồ vật xung quanh, thậm chí
là sự khác biệt giữa con trai và con gái cũng làm chúng tò mò. Bên cạnh đó là một
mặc cảm tội lỗi (guilt) về những sự cấm đoán, trừng phạt của người lớn. Nếu mâu
thuẫn này được giải quyết tốt thì sẽ tạo ra sức mạnh là mục đích (purpose). Đó
có phải ngay từ tấm bé là chúng ta cũng đã chuẩn bị hình thành cho mục đích sống,
đến khi lớn thì là những mục tiêu rõ ràng hơn. Còn nếu mâu thuẫn trong giai đoạn
này giải quyết không tốt, đứa trẻ quá mặc cảm tội lỗi thì chúng có thể sinh ra
sự ức chế (inhibition), khiến chúng không dám làm điều gì, lúc nào cũng cảm thấy
khó chịu với cuộc sống.
Năng lực (competence) và
sự trì trệ (inertia)
Giai đoạn từ 5,6 tuổi đến
11,12 tuổi. Trẻ trong giai đoạn này hầu như là tuổi bắt đầu đi học, ra xã hội
nhiều hơn, hình thành nhiều mối quan hệ bạn bè hơn, tìm hiểu hơn về những kiến
thức mà chúng được thầy cô giáo dạy. Nếu chúng siêng năng (industrious) tìm hiểu
thì rất là tuyệt vời và bên cạnh đó chúng cũng sẽ cảm thấy tự ti (inferiority) nếu
thấy mình thua kém. Nhưng hai trạng thái này rất bù trừ cho nhau để đứa trẻ đạt
được năng lực (competence) giúp chúng giải quyết nhiều vấn đề cho sau này. Ngược
lại nếu mâu thuẫn đó không được chúng giải quyết tốt thì có thể sinh ra sự trì
trệ (inertia) khiến chúng đâm lười biếng, không muốn làm việc gì hết.
Sự chân thực (Fidelity)
và khước từ vai trò (role repudiation)
Giai đoạn từ 11,12 tuổi đến
19,20 tuổi. Lúc này thì các hormon sinh lý, nam, nữ cũng khá là tăng vọt ở thời
điểm này, giúp phân biệt rõ ràng các giới tính và đặc trưng của từng giới.
Trong giai đoạn này thì sẽ là sự xác định rõ nhân dạng (identity) để biết mình
là ai, mình muốn gì trong cuộc sống này, có khi liên quan đến sau này đặc biệt
là việc chuyển cấp học, việc học nghề, việc thi vào đại học. Nhưng có khi chúng
ta sẽ bị khủng hoảng nhân dạng (identity crisis) vì không biết mình muốn điều
gì, mình đang là gì, cái gì mới là bản chất của mình. Trong sự tìm kiếm nhân dạng
của bản thân, sự xác định vai trò của mình, rồi những khủng hoảng tuổi trẻ này,
nếu chúng ta vượt qua được thì nó sẽ là sự chân thực, sự xác thực (fidelity) của
chính ta. Còn nếu mà để bị rối loạn, không rõ mình là ai thì đó sẽ là sự chối bỏ
vai trò của chính mình (role repudiation). Có khi giai đoạn này sẽ kéo dài qua
tuổi 20 mà chúng ta cũng chưa xác định được chính bản thân mình.
Tình yêu (love) và sự độc
tôn, tách biệt (exclusivity)
Giai đoạn từ 20 đến khoảng
30 tuổi. Độ tuổi mà chúng ta sẽ chọn sự yêu thương, thân mật (intimacy) gắn kết
với mọi người xung quanh và đặc biệt là người bạn đời, người vợ của mình trong
tương lai. Bên cạnh đó cũng cần có yếu tố cô lập, hoạt động một mình (isolation)
để chúng ta có những khoảng không gian riêng cho việc giải quyết những vấn đề,
những ước mơ của chúng ta. Sự thân mật cùng với sự cô lập hòa hợp với nhau, đối
pha với nhau sẽ tạo cho chúng ta sức mạnh là tình yêu (love). Ngược lại nếu không
giải quyết tốt hai yếu tố này, không biết vận dụng chúng cho hợp tình hợp lý thì
đôi khi chúng ta lại tự yêu mình thái quá, tự cao, tự đại, chẳng thèm quan tâm đến
người khác, đó chính là sự độc tôn (exclusivity), tách biệt.
Chăm sóc (care) và sự chối
bỏ (rejectivity)
Giai đoạn từ 30 đến 60 tuổi.
Lúc này thì chúng ta cũng có thể có con cái, chúng ta sẽ yêu thương, sẽ chăm sóc
chúng, sẽ truyền lại cho những thế hệ sau những vốn hiểu biết của chúng ta, đó
là sự sáng tạo (generativity). Còn không nữa thì chúng ta cảm thấy mình già
nua, thiếu sức sống, trì trệ (stagnation). Sự mâu thuẫn giữa hai thái cực này,
cái này bổ sung cho cái kia. Nếu chúng ta phát triển tốt thì sẽ hình thành sức
mạnh là sự chăm sóc (care), không nhất thiết là chăm sóc con cái, có thể là những
người xung quanh, những người khác trong xã hội mà đang cần đến sự quan tâm của
chúng ta. Lõi rối loạn tâm lý thời kỳ này là sự chối bỏ (rejectivity), từ chối,
không muốn quan tâm chăm sóc cho một ai hết, chỉ nghĩ đến bản thân mình.
Sự khôn ngoan (wisdom) và
sự khinh bỉ (disdain)
Giai đoạn sau 60 tuổi. Nhìn
lại một quãng thời gian đã qua, với sự toàn vẹn cái tôi (ego integrity) khi mà chúng
ta cảm thấy hài lòng với cuộc sống đã qua, cảm thấy thoải mái với mọi sự kiện, kể
cả cái chết. Nhưng bên cạnh đó, có lẽ chúng ta cũng sẽ cảm thấy tuyệt vọng (despair),
hối tiếc về một số thứ không làm. Chúng ta nhận ra được hai điều trên, vượt qua
giai đoạn này thành công sẽ hình thành cho chúng ta sự khôn ngoan (wisdom). Ngược
lại với sự khôn ngoan là sự khinh bỉ (disdain), không coi trọng người khác kể cả
chính bản thân mình, cảm thấy vô dụng, bất lực.
Tóm lại trải qua các giai
đoạn đời người, sẽ bổ sung cho chúng ta những sức mạnh cơ bản như thế. Mâu thuẫn
là không thể tránh khỏi, nhưng những mâu thuẫn làm phát sinh sức mạnh. Còn ngược
lại nếu không để ý thì chúng sinh ra những rối loạn. Không phải là tất cả. Nếu
chúng ta biết trước được những yếu tố sức mạnh này sẽ xảy đến, tại sao chúng ta
không tìm hiểu về chúng ngay từ bây giờ, để ý quan tâm đến chúng theo một hướng
có lợi nhất cho chính bản thân mình.

Comments
Post a Comment