TỔNG QUAN VỀ STRESS - phần 2
3. Những yếu tố stress
(stressor)
Thường phân loại ra hai
loại stressor:
-
Thứ nhất là yếu tố stress thực thể (physiological stressors) là những yếu tố mà
chúng ta nắm được nó một cách rõ ràng. Ví dụ như: động đất, sóng thần, bệnh tật,
chấn thương,…
-
Thứ hai là yếu tố stress tâm lý (Psychological stressors) là những yếu tố tác động
không rõ hình dạng và mức độ ảnh hưởng là khác nhau giữa từng người. Ví dụ như
ngày mai thi cuối môn, vừa mới chia tay, vừa mới mất người thân,…
4. Hiểu về stress của
chính bạn
Công thức đối với một
stress
|
Những
thành tố |
Sự
ảnh hưởng đến cảm xúc |
|
Sự
mới lạ (Novelty) |
Những
thứ mới mẻ mà bạn chưa từng có kinh nghiệm bao giờ |
|
Không
đoán được (Unpredictability) |
Những
điều mà bạn không biết là nó sẽ xảy ra như thế nào. |
|
Đe
dọa cái tôi của bạn (Threat to the ego) |
Những
gì vốn thuộc về khả năng là một con người của bạn cần phải suy sét lại. |
|
Cảm
giác kiểm soát vấn đề (Sense of control) |
Bạn
cảm thấy bạn có thể kiểm soát tình huống một chút hoặc không. |
Có
bao giờ bạn gặp những tình huống mà bạn có cả những yếu tố trên không? Càng nhiều
thì bạn càng dễ dàng stress hơn và làm tăng những hormones stress.
Và
người ta cũng nói rằng nếu bạn nghĩ đến những điều tồi tệ nhất khi mà bạn có một
sự việc stress sắp xảy đến hoặc là bạn nghĩ đến những gì đó tiêu cực trong
tương lai. Bạn nghĩ rằng: “nếu tôi dự đoán trước những tình huống xấu thì tôi sẽ
không bị stress”. Không phải như vậy đâu! Việc bạn càng nghĩ về nó trước thì
càng làm việc tiết hormone stress của bạn tăng lên mà thôi. Hãy cứ thoải mái và
đương đầu với nó vì bạn cũng không biết chắc chắn khi đó sự việc nó sẽ như thế
nào mà.
5.
Nhận ra stress của bạn
Bạn
có thể nhận ra stress mà bạn gặp không?
Lần
cuối bạn bị stress là khi nào? Làm thế nào bạn biết? Bạn có thể mô tả bạn cảm
thấy như thế nào không?
Những biến đổi trong cơ
thể bạn khi chuẩn bị có một tình huống stress:
-
Năng lượng được huy động từ mô mỡ trong tế bào chuyển thành đường, đường từ trong
gan được lấy ra để tạo năng lượng nhanh.
-
Những hoạt động của tim. Co bóp tim tăng, nhịp tim tăng để tăng cung cấp máu đến
cơ bắp của bạn. Động mạch co lại gây tăng huyết áp. Tĩnh mạch giãn ra để giảm
lượng máu trở về tim.
-
Việc hít vào/thở ra tăng lên để giúp điều hòa hệ hô hấp. Vì cơ thể cần nhiều
oxygen vào máu.
-
Cảm giác của bạn trở nên nhạy bén và cứng cáp để báo động cho bạn. Đồng tử giãn
ra để bạn nhìn được rõ hơn. Lông tóc dựng lên để giúp bạn tăng nhạy cảm khi có
một tác nhân chạm vào.
-
Cơ thể bạn tiết ra endorphin để làm tê liệt những đau đớn tự nhiên để giúp bạn
tập trung hơn, sảng khoái hơn.
-
Sự tiêu hóa và thải trừ dừng lại. Mạch máu đường tiêu hóa co lại. Cảm giác khô
miệng và mất kiểm soát tiểu, tiện.
-
Thay đổi về da. Mạch máu ngoại biên co thắt trong trường hợp chấn thương. Tuyến
mồ hôi mở để làm cho bạn mát hơn.
-
Hệ sinh sản dừng lại. Giảm thiểu sinh sản estrogen, testosterone.
Những
dạng năng lượng được huy động, tích tụ và sẽ xuất ra dưới trạng thái tức giận,
khó chịu vào những tình huống kế tiếp, nói chung là núi lửa đầy cần phải xả, hậu
quả không ngờ của stress.
Tiếp
đến là các biến đổi hormone trong cơ thể. Adrenalin được xem là hormon chiến
binh đi đầu, sau đó là cortisol được xem là hormon gián điệp.
Lời
khuyên sau đoạn này là hãy cố gắng đối mặt với stress và lợi dụng các hormone stress
để tìm cách vượt qua giai đoạn này. Khi đó thì cơ thể bạn mới lấy lại được sự
cân bằng cũng như là một trải nghiệm sẽ được ghi nhớ và sau này gặp lại những
điều tương tự thì cũng không làm bạn stress. Hãy cứ chắc chắn rằng bất kì lúc
nào bạn cũng có thể gặp những vấn đề làm bạn stress.
Stress
cấp và mạn
Stress
cấp thì diễn ra trong thời gian ngắn. Trong lịch sử thì ông Walter Cannon khoái
nghiên cứu loại này.
Stress mạn thì diễn ra trong thời gian dài, ngày này qua ngày khác. Ông Hans Selye thiên về nghiên cứu trường hợp này.
link tham khảo: https://humanstress.ca/stress/what-is-stress/history-of-stress/

Comments
Post a Comment