LỊCH SỬ CỦA STRESS

             Nói về thuật ngữ “stress” thì nó đã được hình thành cách đây khoảng 100 năm và xuất thân từ ông Hans Selye. Nhưng cũng không quên kể ra tên một số nhà khoa học đã đóng góp cho việc ra đời cũng như tiếp tục nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến thuật ngữ này là Claude Bernard, Walter Cannon, Sir William Osler, Yerkes và Dodson, Richard Lazarus [1].


        Thuật ngữ này bắt đầu từ tiếng Latin là “strictus”, sau đó là tiếng Pháp “estresse”, tiếng Anh “distress” và cuối cùng là sự kết hợp tiếng Anh-Pháp “stress”.

Đầu tiên là ông Claude Bernard (1813 – 1878) với sự nổi tiếng về cơ chế nội môi, nền tảng cho việc nghiên cứu stress. Tiếp đến là Sir William Osler (1849 – 1919), ông đưa ra quan điểm về những phản ứng giữa cơ thể con người và điều kiện môi trường sẽ dẫn tới những kết quả sức khỏe khác nhau; tính tình và vẻ ngoài của một người cũng ảnh hưởng tới một số bệnh lý.

Walter Cannon (1871 – 1945) với một số quan sát liên quan đến việc thay đổi một số chuyển hóa trong cơ thể liên quan đến những cảm xúc, những cú shock (như việc thay đổi nhu động ruột, huyết áp, thể tích máu,…). Ông tiếp tục với những nghiên cứu về cân bằng nội môi (hemostasis).

Nói một chút về “cân bằng nội môi” được duy trì bởi hai con đường: thông qua các cơ quan nhận cảm và thông qua những phản hồi âm tính của hệ thần kinh tự động. Nếu một trạng thái được duy trì ổn định, nó được như thế bởi vì bất kỳ xu hướng nào thay đổi thì sẽ tự động bị bù trừ bởi những yếu tố chống lại sự thay đổi đó.

Sau đó là William James và Carl Lange nghiên cứu sâu hơn về thuyết nội môi. W.James nói rằng: “cảm xúc là nhận thức của tâm trí liên quan những biến đổi sinh lý do những kích thích”. Cảm xúc là phản ứng thứ phát,… Nhưng về sau bị tranh luận bởi Cannon, ông cho rằng có khi ta không nhận thức được những biến đổi thể lý cũng như cơ quan nội tạng, trong khi đó sự thay đổi về cảm xúc vẫn đang diễn ra. Cannon tiếp tục nghiên cứu với học trò Philip Bard và đưa ra giả thuyết về những trung tâm cảm xúc trong não, đặc biệt là vùng đồi thị.

“Đáp ứng chiến đấu hay trốn chạy” (fight or flight response). Cannon đánh giá về vai trò của adrenalin (vd như epinephrine,..) được tiết ra trong máu khi gặp những phản ứng căng thẳng, những chấn thương. Và chính adrenalin làm tăng nhịp tim, tăng hô hấp, tăng giải phóng glucose từ gan,…Cuối cùng là việc nên đương đầu với thử thách hay là trốn tránh nó.

Hans Selye (1907 – 1982), người được xem là cha đẻ của thuật ngữ “Stress”. Ông này cũng là một bác sĩ nhưng ông thích nghiên cứu hơn là bên lâm sàng. Mình biết đến ông này qua một số chi tiết như: Ông là người rất muốn làm việc gì cũng phải thật xuất sắc, ngay từ bé thì ông đã có suy nghĩ đó; tiếp nữa là ông xem việc đi làm chỉ như là một quãng thời gian giải trí (leisure time), chi tiết này rất hay. [2]

Trong việc mô tả đáp ứng stress, Selye chia ra làm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: phản ứng báo động, cơ thể chuẩn bị chiến đấu với tác nhân hoặc trốn tránh.

- Giai đoạn 2: một số biến đổi sinh lý trong cơ thể để đáp ứng với stress.

- Giai đoạn 3: kiệt sức, sau một thời gian dài chống chọi thì cơ thể sẽ bị suy yếu.

Kết lại ở đoạn này thì Selye chuyên nghiên cứu về những stress kéo dài, còn Cannon chuyên nghiên cứu về những đáp ứng stress thoáng qua, cấp tính.

Quy luật Yerkes – Dodson, do hai nhà bác học cùng tên thực hiện trên những con chuột và đưa ra kết luận sơ khởi về kích thích mang tính trung bình, vừa phải thì hiệu quả thực hiện hành vi sẽ cao nhất. Sau này người ta minh họa lại thành dạng chữ U ngược mà các bạn có thể tìm đọc trên mạng, để biết được cái đỉnh của chữ U là nơi hiệu suất thực hiện hành vi cao nhất.

 


 Và sau chiến tranh thế giới thứ hai thì người ta càng ghi nhận được sự quan trọng của stress trong cơ chế bệnh sinh và một số rối loạn liên quan ở những người lính tham gia chiến trường. Và cũng chính điều đó đặt ra một số giả thuyết mới cần phải nghiên cứu về những yếu tố tâm lý, phi thực thể ảnh hưởng đến một số bệnh trong cơ thể.

          Richard Lazarus (1922 – 2002) tiếp tục nghiên cứu tác động của nhiều yếu tố trong đáp ứng stress. Ông đưa ra mô hình tương tác (the transactional model) giải thích việc mỗi cá nhân tái thẩm định, đánh giá và đương đầu với những yếu tố stress là khác nhau. Việc đánh giá diễn ra hai lần: lần đầu với việc tiếp nhận yếu tố stress, lần hai với việc cơ thể xem xét có những yếu tố nào để đương đầu với nó. Sau đó ông tiếp tục nghiên cứu cùng với Susan Folkman đưa ra cách thức đương đầu với stress ở con người, bao gồm hai cách:

+ Cách thứ nhất là khi gặp biến cố, thử thách thì người ta xem coi có những yếu tố nào hỗ trợ người ta giải quyết những vấn đề đó (Problem-focused coping hay là solution-focused coping).

+ Cách thứ hai là khi stress quá mức chịu đựng của cơ thể hoặc là chúng ta không có cách nào để thích ứng thì chúng ta sẽ tập trung vào cảm xúc (emotion-focused coping) để giải quyết.

 


Sự phát triển y học trong tương lai. Hướng về nghiên cứu biểu sinh học hay còn gọi là ngoại di truyền (epigenetic), về những yếu tố như môi trường, ăn uống, hoạt động liên quan đến kiểu gen và từ đó sinh ra kiểu hình, một số rối loạn tâm lý kèm theo.

Stress ngày càng phổ biến và ngày càng cần kết hợp nhiều chuyên ngành như nội tiết, tâm lý, thần kinh, di truyền học, sinh học,… để mở rộng ra nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn.

 




1. https://www.researchgate.net/publication/322880845_Let's_Talk_About_Stress_History_of_Stress_Research

2. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5915631/pdf/SMJ-59-170.pdf 

3. https://en.wikipedia.org/wiki/Claude_Bernard

4. https://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Bradford_Cannon

5. https://en.wikipedia.org/wiki/Hans_Selye

6. https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Lazarus

 

Comments

Popular posts from this blog

DÁM BỊ GHÉT - Kishimi Ichiro và Koga Fumitake

ĐỜI BỪNG SÁNG KHI TA BIẾT LÃNG QUÊN - Marc Levy

Liệu pháp tập trung vào giải pháp trong thời gian ngắn (Solution-Focused brief therapy – SFBT)