5. NHỮNG THỨ LÀM CHÚNG TA HẠNH PHÚC (KẾT QUẢ CAO VÀ ĐỘNG LỰC)


Khóa học: “The science of well-being”
Chương này, chúng ta cùng cô giáo Santos bàn về vấn đề động lực và kết quả cao.
Motivating your Employees - Institute of Entrepreneurship Development

- Đa số thời chúng ta đi học thì chúng ta đều muốn đạt được điểm cao. Nhưng thực sự điều đó sẽ được phân tích sau đây. Cái gì là điều chúng ta nên muốn chứ không nhất thiết là điểm cao, mặc dù điểm cao thì cũng tốt thật. Riêng về chủ đề điểm cao thì chúng ta sẽ bàn về động lực trong việc học kể cả trong công việc hay bất kỳ vấn đề nào trong cuộc sống.
- Chúng ta sẽ xét đến những quan niệm về động lực để chúng ta hiểu rõ hơn về việc chúng ta thực hiện một công việc, một môn học vì lý do gì.
+ Động lực bên ngoài: gắn liền trong một hành vi để nhận được những phần thưởng từ bên ngoài hoặc tránh sự trừng phạt.
+ Động lực bên trong: gắn liền trong một hành vi bởi vì bạn thích thú trong hoạt động đó.
Động lực bên ngoài có thể hủy hoại động lực bên trong. Việc tập trung vào điểm số, kết quả có thể hủy hoại động lực bên trong. Việc tập trung vào điểm số, kết quả có thể hủy hoại một tư duy tăng trưởng.

- Và tiếp tục là hai khái niệm về tư duy.
+ Tư duy tăng trưởng: niềm tin rằng sự thông minh có thể luyện tập và rằng hầu hết những hoạt động cơ bản nhất có thể phát triển thông qua công hiến và làm việc chăm chỉ.
+ Tư duy cố định: niềm tin rằng những phẩm chất cơ bản giống như thông minh và năng lực là những đặc điểm cố định.

Tư duy cố định
Tư duy tăng trưởng
+ Tập trung vào điểm số/ kết quả

+ Hiệu suất tốt đến tự nhiên

+ Nếu tôi phải làm việc, sau đó tôi không thấy thông minh
+ Nỗ lực đối với họ là dấu hiệu tồi tệ
+ Sự che giấu những khiếm khuyết
+ Sự che giấu những lầm lỗi

+ Tập trung vào việc học, công việc chứ không quan tâm nhiều đến kết quả
+ Hiệu suất tốt là cần làm việc chăm chỉ
+ Làm việc chăm chỉ là tốt và làm thế nào để bạn tốt hơn.
+ Nỗ lực là dấu hiệu tốt

+ Tận dụng tối đa sự thiếu hụt.

+ Tận dụng những sai lầm

- Một nghiên cứu của Grant & Dweck (2003) về việc học của sinh viên với những tư duy khác nhau cho những kết quả:
+ Tư duy cố định: Lo lắng về điểm số, điều kiện thiếu thốn và mất tự tin.
+ Tư duy tăng trưởng: quan tâm về việc học các tài liệu, điều kiện thiếu thốn nhưng làm việc chăm chỉ.
+ Cuối cùng thì sinh viên với tư duy tăng trưởng thì tăng điểm số cuối kỳ.
Audit Advantage: Motivation, the Force Within | CareersinAudit.com

Tư duy cố định
Tư duy tăng trưởng
+ Giảm động lực bên trong

+ Những điểm tốt, kết quả tốt chỉ có nếu hiệu suất tốt
+ Giảm điểm, kết quả sau khi năng suất giảm
+ Sự trì trệ nhiều hơn
+ Mất giá trị của bản thân
+ Không giảm động lực bên trong
+ Kết quả nhìn chung tốt
+ Hiệu suất cao hơn

- Nghiên cứu của Blackwell et al (2007) cũng cho thấy người với tư duy cố định thì tập trung vào điểm số, kết quả; còn người với tư duy tăng trưởng thì việc học hỏi quan trọng hơn là những điểm tốt, kết quả tốt.
- Một nghiên cứu nữa của Mangels et al (2006) về những phản hồi xấu và được ghi nhận trên sóng điện não. Thấy rằng những sóng điện não ở người tư duy cố định thì cho thấy tập trung hơn vào phản hồi (đúng/sai), sóng điện não ở người tư duy tăng trưởng cho thấy sự tập trung hơn vào những câu trả lời đúng.
Qua một số khảo sát và những nghiên cứu trên đây thì chúng ta cũng thấy rằng trong công việc, học tập thì việc tâp trung vào những động lực đến từ bên trong và có một tư duy tăng trưởng là một điều vô cùng quan trọng để giúp chúng ta không thấy chán nản và cảm thấy hạnh phúc hơn trong công việc, học tập.



Popular posts from this blog

DÁM BỊ GHÉT - Kishimi Ichiro và Koga Fumitake

ĐỜI BỪNG SÁNG KHI TA BIẾT LÃNG QUÊN - Marc Levy

Liệu pháp tập trung vào giải pháp trong thời gian ngắn (Solution-Focused brief therapy – SFBT)